Sống vui: nghị luận văn học

Headlines
Loading...

3/28/2020

Phân tích diễn biến tâm trạng của chí phèo kể từ sau khi gặp Thị Nở đến trước khi bị cự tuyệt
     Phân tích diễn biến tâm trạng của Chí Phèo kể từ sau khi gặp Thị Nở đến trước khi bị cự tuyệt (trong truyện ngắn Chí phèo) để thấy được giá trị nhân văn mà tác giả Nam cao gửi gắm.
Bài làm.

      Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn. Trong số các tác phẩm của ông, Chí Phèo là tác phẩm để lại nhiều xúc động trong lòng người đọc hơn cả. Không chỉ dừng lại ở sưa cao thuế nặng, Nam Cao có cái nhìn đầy mới mẻ về những người nông dân bị tha hóa, lưa manh trước Cách Mạng tháng Tám. Chí Phèo là người nông dân như thế. Tận đáy lòng Chí luôn tràn đầy khát vọng làm người lương thiện, làm hòa với mọi người. Thị Nở đến, Thị kéo hắn ra khỏi con đường tội ác, để Chí có những giây phút thực sự sống như một con người chứ không phải một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Đây cũng chính là giá trị nhân văn mà tác giả gửi gắm.
      Tác phẩm "Chí Phèo" được viết dựa trên những điều mắt tháy tai nghe cuả tác giả tại quê hương ông. Nhân vật Chí Phèo vì thế mà trở nên sống động, chân thực đến không ngờ. Chí là một con quỷ dữ của làng Vũ Đại nhưng từ lần tình cờ gặp Thị Nở, cuộc đời hắn đã thay đổi không ngờ.
Chí Phèo vốn không cha, không mẹ, được người làng nhặt "trần trường và xám ngắt trong một chiếc vấy đụp" ở một lò gạch cũ bỏ không. Chí bất hạnh từ thủa mới lọt lòng, tuổi thơ Chí chẳng êm đềm, được người làng truyền tay nhau nuổi lớn. Năm 20 tuổi, Chí Phèo vô cớ bị đẩy đi tù bảy tám năm trời đằng đẵng. Khi ra tù trở về ngôi làng Vũ Đại, hắn bị Bá Kiến- một kẻ khôn róc đời lợi dụng, trở thành tay sai chuyên đi gây tội ác thay cho Ba Kiến. Lâu dần hắn trở thành một con quỷ dữ. Hắn sinh ra là một con người nhưng lại sống kiếp sống của một con quỷ, một con vật lạ bị người đời khinh bỉ. Chí sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ, sống trobng rượi, không hề có nhận thức, lí trí.
      Trong khỉ cả làng xa lánh Chí, Thị lại bước chân vào đời Chí, Không khinh thường coi rẻ, Thị chỉ đơn thuần quan tâm chăm sóc cho hắn. Chính Thị đã lôi hắn ra khỏi những cơn say rượi triền miên, con đường tội ác, tìm lại nhận thức , lí trí.
      Thị Nở đã ngoài 30 tuổi mà vẫn ế chồng,  xấu đến "mà chê quỷ hờn", lại còn ngẩn ngơ, có dòng má hủi. Không có một chàng trai nào đủ can đảm để đến với Thị. Cuộc sống trớ trêu đã dành cho Chí một ý trung nhân không trọn vẹn. Thị Nở thiếu tất cả những thứ mà một người phụ nữ bình thường cần có - là trí tuệ và nhan sắc. Nhưng ở Thị lại có một thứ Chí rất cần.  Đó là tình yêu và sự quan tâm chân thành. Chính điều đó đã gợi dậy bản tính lương thiện trong Chí. 
Sáng ngày hôm sau, Chí đã thay đổi, hắn cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian:"mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là đã rực rỡ". Hắn còn nghe thấy cả tiếng chim hót rúi rít, tiếng nói cười của những người đi chợ và tiếng gõ mái chèo đuổi cá của anh thuyền chài. Những âm thanh đó ngày nào cũng có, đó là những điều quá đỗi quen thuộc. Nhưng hôm nay, Chí mới nghe thấy bởi đây là lần đầu tiên hắn tỉnh lại sau những cơn say dài, lí trí và nhận thức trở về với hắn. 

     Chí Phèo nhớ lại cái ước mơ tuổi hai mươi: mong ước có một ngôi nhà nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng để làm. Mơ ước đó thực sự rất đơn giản và bình dị. Nhưng với Chí,  đó là ước mơ chẳng thể thành hiện thực.  Vì bây giờ hắn đã hơn 40 tuổi, "đây không phải cái tuổi con người ta bắt đầu sửa soạn nữa". Và bản thân hắn tự nhận thấy mình đã qua đến cái dốc bên kia của cuộc đời. Hiện thực hóa ước mơ trong quá khứ là điều không tưởng.  Nghĩ về quá khứ, Chí càng xót xa hơn với hiện tại.  Hiện tại, hắn đã già rồi mà vẫn còn cô độc.  Chí có thể mường tượng trước được một tương lai "đau ốm, đói rét và cô độc".  Điều Chí sợ nhất lúc này là cô độc. Chìm trong suy nghĩ, hắn nghĩ mình có thể khóc được mất. Lí trí tuy đã trở về chỉ khiến hắn cảm nhận sâu sắc hơn sự bị đát của cuộc đời. Cuộc đời hắn thế là hết, chẳng thể làm lại được nữa. Nếu không có sự xuất hiện của Thị Nở, có lẽ Chí vẫn cứ trượt dài trên con đường đầy tội lỗi, sống kiếp sống một con quỷ. 
Nhưng Thị đến, đến một cách bất ngờ. Thị quan tâm, chăm sóc Chí. Biết hắn ốm, Thị Nở mang sang cho hắn một nồi cháo hành còn nóng nguyên. Lúc đầu Chí "bất ngờ" lắm, hết bất ngờ hắn lại thấy mắt mình ươn ướt. Bởi đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho không. Xưa nay hắn nào thấy người ta cho không hắn cái gì, hắn phải dọa nạt, cướp giật, hắn phải làm cho người ta sợ. Tự nhiên hắn thấy lòng vừa vui vừa buồn. Vui vì được quan tâm mà buồn có lẽ vì hắn ăn năn hối hận về những việc, tội ác mà mình đã gây ra. Hắn cứ xúc động, bâng khuâng nhìn mãi nồi cháo hành. Khi Thị Nở giục hắn ăn, Chí mới thoát ra khỏi những suy nghĩ của mình. 
      Chí ăn cháo -món cháo hành đơn thuần đạm bạc nhưng "mới ngon làm sao". Chí tự nhận định "những người cả đời không ăn được món cháo hành không biết rằng cháo hành ăn rất ngon".  Mà tại sao giờ hắn mới thấy?  Nhanh chóng, Chí đã tìm được câu trả lời "có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn có ai nấu cho mà ăn nữa". Cuộc đời thật tàn nhẫn đối với hắn. Một con quỷ dữ như hắn cũng có lúc xót xa như vậy, đắng lòng như vậy. Nam Cao đã thật tài tình, khéo léo miêu tả một Chí Phèo tàn bạo nhưng cũng đầy xót xa, khao khát thiện lương. Tác giả không nhìn một cách phiến diện về những người nông dân bị tha hoá, ông nhìn thấy những nét đẹp tận sâu trong con người họ. 
      Khi ăn bát cháo hành của Thị Nở, Chí càng thèm lương thiện hơn, khao khát lương thiện. Trong suy nghĩ của Chí, Thị Nở có thể làm bạn với Chí sao mọi người khác lại không được. Thị Nở sẽ là cây cầu nối, mở cánh của giúp Chí trở về thế giới lương thiện và bình đẳng ngoài kia. Hắn gửi gắm tất cả bao hi vọng, niềm tin vào Thị Nở. Tuy trong con người bừng bừng phấn chấn, sục sôi trở về làm người lương thiện thì Chí vẫn "băn khoăn" lắm, hắn cũng sợ mình bị gạt bỏ như cách hắn đánh mất tiếng nói trong cộng đồng. Đáp lại băn khoăn của Chí, Thị Nở dành cho Chí một nụ cười tin cẩn. Chính nụ cười này như động viên khích lệ Chí. 
      Ngay lập tức để hiện thực hoá ước mơ trong quá khứ, hắn tỏ tình với Thị Nở :"Giả cứ thế này mãi thì thích nhỉ?". "Hay mình sang ở chung một nhà với tớ cho vui". Những lời lẽ sao mà "phong tình"? Đó có còn là Chí Phèo một con quỷ dữ  không hay chỉ là một chàng trai ngỏ lời với người con gái trong lòng. Thị Nở đã mang đến một sức sống mới cho Chí. Và Chí đã bước chân lên con đường làm người lương thiện. 
Năm ngày bên nhau, Chí Phèo luôn tỉnh táo, hắn say nhưng không phải say rượu, hắn say Thị. Từ khi có Thị Nở, hắn ít uống rượu, hắn nghĩ mình phải tỉnh táo để mà yêu. Sự thay đổi của Chí Phèo làm chúng ta đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nam Cao đã không để Chí tiếp tục trượt trên con đường tội ác, ông để cho Chí gặp Thị Nở, mở ra một chương mới trong cuộc đời hắn. 
      Nhưng trớ trêu thay, những hi vọng của Chí Phèo lại gửi gắm toàn bộ vào Thị Nở -một người ngẩn ngơ. Yêu nhau năm ngày, Thị chợt nhớ ra mình có một người bà cô và nội ngày hôm nay, người bà cô ấy sẽ trở về và Thị phải dừng yêu để hỏi ý kiến người bà cô đó.  Khi nghe Thị hỏi, bà cô đầu tiên bật cười, bà nghĩ Thị đùa, không đáng tin. Nhưng sau bà giật mình "hoảng hốt",  bà thấy nhục nhã thay cho cha ông nhà bà, thấy tủi cho thân bà đã ngoài 50 mà chưa có chồng. Bà thấy "Thị Nở sao mà đĩ thế" . Thị lấy ai không lấy lại lấy Chí Phèo -một người không cha, không mẹ, chỉ có mỗi nghề rạch mặt ăn vạ". Những lời lẽ nhận định của bà cô đầy định kiến nhưng lại rất đúng. Mọi người chỉ nhìn thấy một con quỷ dữ chứ không thấy khát vọng lương thiện của Chí. Nghe bà cô nói, Thị tin ngay, trút hết giận dữ lên Chí Phèo. Khi chưa hiểu, Chí còn cảm thấy Thị thú vị, lắc lư đầu rồi cười. Chí nghĩ rằng Thị đùa với Chí. Trong tâm Chí, Chí rất vui khi có Thị Nở, hắn sẵn sàng vui đùa với Thị. Nhưng không, Thị đến để cự tuyệt. 
      Có thể nói, từ sau lần gặp gỡ Thị Nở, diễn biến tâm trạng Chí hoàn toàn thay đổi. Chí sống có nhận thức và suy nghĩ, hắn biết vui biết buồn, trải qua tất cả cảm xúc của một đời người. Chỉ một thời gian ngắn ngủi, Chí đã sống trọn vẹn một kiếp người hơn cả mười mấy năm sống kiếp quỷ dữ. Nam Cao không hề để cho nhân vật của mình chết chìm trong tội ác. Qua cuộc đời của Chí, tác giả đã gửi gắm niềm cảm thông sâu sắc tới những kiếp người bị áp bức đến đường cùng. Họ là những người nông dân bị tha hoá, lưu manh trước Cách mạng Tháng tám. Họ cũng như Chí Phèo khao khát hoàn lương, mong muốn được quan tâm chăm sóc. Không dừng lại ở đó, ẩn trong từng câu chữ là thái độ lên án xã hội thực dân nửa phong kiến đầy bất công và tàn bạo. Đây chính là giá trị nhân đạo mà tác giả gửi gắm. 
      Tắc phẩm Chí Phèo chính là đứa con cưng trong lòng của Nam Cao. Bằng nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật, xây dựng hoàn cảnh truyện và cốt truyện hấp dẫn, ngôn ngữ bình dị, nửa trực tiếp, tác phẩm Chí Phèo làm lu mờ đi các tác phẩm cùng thời khác. 
   Thiếu sót trong bài viết trên :
-Mở bài dài dòng, không hay
-Nhiều câu văn chưa mạch lạc 
Điểm đánh giá :8,5Đ

1/08/2020

Cảm nhận con sông Đà trữ tình
      Nguyễn Tuân là nhà văn duy mĩ -"suốt đời tôn thờ và phụng sự cái đẹp" (GS.Nguyễn Đăng Mạnh). Tác phẩm của ông là những trang viết sống động về con người và thiên nhiên với cảm hứng ngợi ca. Người lái đò Sông Đà là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng thẩm mĩ ấy của nhà văn. Dưới ngòi bút của ông, Sông Đà hiện lên hung bạo như một loài thủy quái nham hiểm và độc dữ nhưng cũng rất dụi dàng và say đắm như một mỹ nhân Tây Bắc.

      Đoạn trích "Người lái đò Sông Đà" được trích trong tuỳ bút Sông Đà (1960). Tác phẩm này là kết quả của chuyến đi dài 8 tháng mà NT đã đến với Tây Bắc. Tây Bắc hùng vĩ mà dào dạt chất thơ đã tạo ấn tượng cho nhà văn, nhất là con sông Đà. NT sau khi trở về Hà Nội đã bắt tay vào sáng tác tuỳ bút Sông Đà. Tác phẩm nhanh chóng đến với bạn đọc và được đón nhận nồng nhiệt. Tuỳ bút đã thực sự gây ấn tượng mạnh cho người đọc bởi chất liệu ngôn từ phong phú và đa dạng. Nhà văn đã huy động cả kho tàng Tiếng Việt, cả nhiều ngành nghề, lĩnh vực để tái hiện một Sông Đà hung bạo, trữ tình và một người lái đò mang cốt cách nghệ sĩ. 
      Phần đầu của đoạn trích, tác giả chủ yếu miêu tả sự hung bạo, hùng vĩ nguy hiểm của một dòng sông lắm thác nhiều ghềnh. Đó là sự dữ dội của cảnh đá dựng bờ sông, cảnh ghềnh Hát Loóng "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió", cảnh những cái hút nước rùng rợn, cảnh thác đá gào thét, dòng sông với biết bao cửa sinh cửa tử... Cuối đoạn trích tác giả chủ yếu bàn về vẻ đẹp trữ tình của dòng sông. 
NT quan sát Sông Đà ở nhiều góc độ. Góc độ thứ nhất là từ trên cao nhìn xuống. Ở điểm nhìn ấy tác giả đã hình dung con sông Đà giống như một người đàn bà kiều diễm với áng tóc trữ tình đằm thắm :"con sông Đà tuân dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói mèo đất nương xuân". Điệp ngữ tuôn dài tuôn dài như mở ra trước mắt người đọc một sự xuýt xoa trước vẻ đẹp kiều diễm tuyệt đẹp của ông Đà. Sông Đà giống như một kiệt tác của trời đất. Chữ "áng"  thường gắn với áng thơ, áng văn, nay được NT gắn với "tóc"  thành "áng tóc trữ tình". Nguyên cả cụm từ ấy đã nói lên hết cái chất thơ, chất trẻ trung và đẹp đẽ, thơ mộng của dòng sông. Cảnh vì thế mà vừa thực lại vừa mộng. Hai chữ ẩn hiện càng tăng lên sự bí ẩn và trữ tình của dòng sông. Sắc đẹp diễm tuyệt của sông Đà -của người đàn bà kiều diễm còn được tác giả nhấn mạnh qua động từ bung nở và từ láy cuồn cuộn kết hợp với hoa ban nở trắng rừng, hoa gạo đỏ rực hai bên bờ làm người đọc liên tưởng mái tóc như được trang điểm bởi mây trời, như cài thêm hoa ban hoa gạo và đẹp mơ màng như sương khói mùa xuân. Sự nhân cách hoá đó làm Sông Đà gợi cảm biết bao! 
      Vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà còn được NT thể hiện qua việc miêu tả sắc nước. Câu văn thể hiện sự say mê của NT về con sông Tây Bắc thật bay bổng và lãng mạn "Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà,tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà". Chính vẻ đẹp của mây trời đã tạo cho con sông Đà một vẻ đẹp riêng không trộn lẫn.  Nếu như Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn thấy sông Hương có màu xanh thẫm và ánh nắng "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím" do sự phản quang của mây trời và đẹp như một đóa hoa phù dung ; thì NT lại phát hiện ra vẻ đẹp của sắc nước Sông Đà thay đổi theo mùa. Mùa xuân, nước sông Đà xanh ngọc bích "chứ không xanh màu xanh canh hến của nước sông Gâm, sông Lô" . Xanh ngọc bích là xanh trong, xanh sáng, xanh biếc - một sắc màu gợi cảm, trong lành. Đó là sắc màu của nước, của núi, của da trời. Mùa thu, nước sông Đà " lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội độ thu về ". Câu văn sử dụng phép so sánh "lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa"  khiến người đọc hình dung được vẻ đẹp đa dạng của sắc nước Sông Đà. Đồng thời qua câu văn, NT cũng đã làm nổi bật được trong cái trữ tình thơ mộng của dòng nước còn có cái dữ dội ngàn đời của con sông Tây bắc. 
     Quan sát ở điểm nhìn gần, bằng những câu văn đầy chất thơ, NT đã để cho ngòi bút của mình lai láng về Đà giang. Tác giả ví Sông Đà như một cố nhân đi xa thì nhớ, gặp lại thì mừng vui khôn xiết. Khi bắt gặp ánh nắng chiếu vào mắt, trong sự hướng ngoại, nhà văn đã phát hiện ra nắng Sông Đà đẹp đến mê hồn trong ánh sáng " loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi " yên hoa tam ngựa há Dương Châu ". Mượn câu thơ trong bài thơ Đường nổi tiếng "Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng" - NT dường như đã ngầm khẳng định vẻ đẹp cổ thi của dòng sông Tây Bắc. Dòng sông ấy trong sự liên tưởng đến thơ Đường đã gợi tả được vẻ đẹp phẳng lặng, trong sáng, lấp lánh, hồn nhiên thanh bình. 
      Trong cảm nhận của NT, gặp lại Sông Đà nhận ra con " sông vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng ". Cách so sánh độc đáo, nhân cách hoá, Sông Đà hiện lên đẹp bởi chiều sâu: thân thiện, dễ mến, phảng phất hơi ấm tình người của dòng sông. Nó trở thành người bạn hiền chung thủy, điềm tĩnh chờ đợi người đi xa trở về. 
       Tác giả miêu tả cảnh đôi bờ sông thật ấn tượng. Người đọc như lạc vào thế giới cổ tích, thế giới của tiền sử. Câu văn " thuyền tôi trôi trên sông Đà " toàn vần bằng tạo cảm giác yên ả, thanh bình, sự tĩnh lặng. Tác giả hướng đến lịch sử của những buổi đầu dựng nước và giữ nước :" Hình như từ đời Trần, đời Lý, đời Lê, quãng sông này cũng lặng lẽ đến thế mà thôi ". Sự hướng nội này càng làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ và hồng hoang của đôi bờ sông Đà. Đúng như tác giả đã so sánh " bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa ". Phép so sánh độc đáo, dùng không gian để gợi mở thời gian, mở rộng biên độ làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, nguyên thủy của buổi sơ khai. 
      Bờ sông ở đây còn nổi lên vẻ đẹp của thảm thực vật và muông thú. Trong cảnh lặng như tờ của thiên nhiên, trong cảnh sương đêm chưa tan hết, nhà văn đã nhìn thấy một vẻ đẹp đầy sức sống " một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa mà tịnh không một bóng người, cỏ giành đồi núi đang ra những nõn bút ". Cảnh tượng đó còn ấn tượng bởi một " đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm ". Vẻ đẹp ấy thật đầy chất thơ, chất hoạ. Thiên nhiên giống như một bức tranh thủy mặc lộng lẫy. Điều ấy khiến ta liên tưởng đến cảnh trong giã sử Trung Hoa có một ngư dân một hôm chèo thuyền ngược dòng sông rồi lạc vào một chốn thần tiên, một chốn Đào nguyên. Chất thơ trong đoạn văn viết về Sông Đà của NT có lẽ cũng toát từ điển tích ấy gợi lên trong tâm trí người đọc về vẻ đẹp của dòng sông Tây Bắc - nơi khởi nguồn cho tình yêu đất nước. 
      Đoạn trích khép lại bằng hình ảnh " tiếng cá quẫy... đuổi đàn hươu vụt biến " và con sông Đà trong sự liên tưởng đến thơ Tản Đà " bọt nước lênh bênh... bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình của một người tình nhân chưa quen biết " càng làm chỗ hình ảnh dòng sông trở nên quyến rũ, cô linh hồn, giàu sức hút. 
      Đoạn văn đã sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, bút pháp nhân hoá miêu tả, liên tưởng bất ngờ thú vị. Từ ngữ chọn lọc độc đáo. Hình ảnh lãng mạn. Sử dụng kiến thức hội hoạ, thơ ca để miêu tả. Tất cả đã giúp NT tái hiện được sức sống mãnh liệt của Mỹ nhân Sông Đà thơ mộng và trữ tình. 
Sông Đà là dòng sông của Tây Bắc, dòng sông với trữ lượng thủy điện lớn nhất cả nước. Đó cũng là một dòng sông hiểm nguy rình rập với " trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh ". Nhưng đó cũng là một dòng sông lai láng chất thơ trong cảm nhận của NT.NT đã miêu tả con sông như một công trình nghệ thuật, một tác phẩm hội hoạ mà tạo hóa đã ban tặng tô điểm cho đất nước ; ông khám phá dòng sông ở phương diện thẩm mĩ nên thể hiện phong cách tài hoa. Trang sách khép lại rồi mà dường như tâm hồn của bạn đọc vẫn đang trôi mênh mang trên một dòng sông " hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa ".

1/04/2020

Cảm nhận hình ảnh Con sông Đà hung bạo trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đất nước mình thì bắt lên câu hát 
      Những dòng sông yêu thương của quê hương, đất nước Việt Nam tự bao giờ đã trở thành nguồn cảm hứng dào dạt cho các văn nghệ sĩ. Dường như mỗi nhà văn, nhà thơ lại có một dòng sông để thương để nhớ của riêng mình. Nguyễn Hoàng Cầm tha thiết với sông Đuống thân thương ;Hoàng Phủ Ngọc Trường đắm đuối sông Hương thơ mộng, kiều diễm thì Nguyễn Tuân say đắm vẻ đẹp hung bạo, trữ tình của Sông Đà. Với niềm say mê đắm đuối cùng vốn trí thức tài hoa, Nguyễn Tuân đã tạo nên trang văn độc đáo "Người lái đò Sông Đà". 
      Là cây đại thụ của rừng đầu nguồn văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân luôn say mê những cái phi thường, tuyệt đỉnh, tuyệt đối, thích cảm xúc mạnh. Ưa khám phá sự vật, hiện tượng đến tận chân tớ kẽ tóc, trang văn của Nguyễn Tuân phô diễn kiến thức hết sức uyên bác :lịch sử, địa lý, âm nhạc, văn chương, thể thao, quân sự. 
      "Người lái đò Sông Đà" được sáng tác vào năm 1958 và được in vào tập "Sông Đà"  năm 1960.Trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc xã xôi, rộng lớn không chỉ thỏa mãn khát khao xê dịch mà chủ yếu là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và thứ vàng mười đã qua thử lửa nơi tâm hồn con người. 
      Ngay từ lời đề từ của tác phẩm,Nguyễn Tuân đã đóng đinh vào lòng người đọc ấn tượng về sự ngang ngạnh bướng bỉnh, lạ thường :"Chúng thủy giai quy tận -Đà giang độc bắc lưu". Lời đề từ đã khẳng định nét độc đáo của dòng sông Đà :mọi con sông đều chảy về hướng Đông, chỉ có Sông Đà chảy theo hướng Bắc, đồng thời cũng khẳng định cá tính độc đáo của Nguyễn Tuân trong dòng sông văn chương :một nhà văn có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, về bản ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật. Ngay sau lời đề từ ấy, Nguyễn Tuân đã tỉ mỉ liệt kê tên 73 con thác độc dữ của Sông Đà. 
      Nhưng hùng vĩ của Sông Đà không chỉ có thác mà còn ở cảnh đá bờ sông. Cái sừng sững của vách đá, cái lạnh lẽo tối om và thắt hẹp lại của quãng sông hiện lên rõ mồn một trước mắt người đọc bởi hàng loạt hình ảnh, sự kiện, phép so sánh mới lạ của Nguyễn Tuân. Đá hay bờ sông dựng đứng, cao ngút trời, mặt sông chỉ lúc đứng ngọn núi mới có mặt trời. Quãng sông rất hẹp đến mức con hổ, con nai cũng có thể vọt qua được. Đi giữa vách đá cao vòi vọi, đến đúa giữa mùa hè mà cũng cảm thấy lạnh người và tối om. Như đứng ở hè một cái ngõ ngóng vong lên một khung cửa sổ trên cái tầng thứ mấy của tòa nhà vừa tắt phụt Điện . Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân đã cho thấy sự nguy hiểm, bí ẩn của dòng sông. Một nơi lòng sông nhỏ hẹp, lưu tốc dòng chảy lớn với những vách đá cao vút, vững chãi giờ đây đang trở nên nguy hiểm vô cùng. Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được, lùi không xong, chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi. 
      Đâu chỉ hung bạo hùng vĩ, Sông Đà còn vô cùng hung bạo, dữ dằn. Ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng ngàn cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng muốn lấy mạng những người lái đò qua đây. Với những điệp từ, câu văn như dậy sóng dậy gió. Thủ Pháp nghệ thuật tăng tiến "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió" như mô phỏng hình ảnh những con sóng dữ cuồn cuộn chồm lên nhau theo chiều ngang, vút lên cao theo chiều dọc rồi đổ ập xuống, cuồn cuộn ghê rợn trên mặt ghềnh. Diện mạo của Sông Đà thật gớm ghiếc hung dữ chẳng khác nào tên lưu manh, côn đồ, giang hồ chuyên nghề đâm, thuê, chém, mướn.
Những cái hút nước sông Đà còn đáng sợ hơn và thực sự trở nên hiểm ác trong trang văn của Nguyễn Tuân. Với tham vọng đem đến cho người đọc cảm giác chân thực, sống động nhất về sự hung dữ của cái thác nước, Nguyễn Tuân đã tung ra đội quân hùng hậu :văn chương, điện ảnh, thể thao.. Chỉ riêng trong đoạn văn đã có nhiều so sánh, liên tưởng độc đáo. Người đọc dễ hình dung về cái hút nước khủng khiếp trên sông Đà. Nước xoáy tít đáy, sâu hun hút như cái giếng bê tông thả xuống làm móng cầu. Từ đáy cái hút nước lên mặt chênh nhau vài sải tay. Nước thở và kêu như cái cống bị sặc, có lúc ặc ặc nghe như vừa rót dầu sôi vào. Thuyền bè vô ý qua đây, không vững tay chèo liền bị lôi tuột xuống, trồng cây chuối ngược, đi ngầm dưới lòng sông, mười phút sau mới tan tác ở quãng sông dưới. Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn Tuân còn muốn người đọc nảy ra ý tưởng điện ảnh táo bạo. Nhà văn nghĩ đến chuyện một anh quay phim ngồi vào thuyền rồi cho cả mình và máy quay để thu ảnh, truyền cho người đọc cả khối nước sắp ụp vào mình. Thiết nghĩ không cần đến sự phiêu lưu mạo hiểm của người quay phim ấy nữa bởi vì chỉ cần đọc văn Nguyễn Tuân, ta đã cảm thấy như được xem một bộ phim 3D sống động. 
      Nói đến hung bạo của Sông Đà tất phải nói đến cái dữ dằn của con thác. Nó đã chỉ điểm ra vài giọng điệu của con thác nghe đã thấy ghê người. "Tiếng thác nước nghe như oán trách, rồi nghe như là van xin, rồi lại như khiêu khích, khi giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi, nó bất thần rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng giữa rừng vầu, rừng tre nứa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Dưới ngòi bút của NT, những con thác Sông Đà có khác nào con quái vật hung hãn trong cơn bứt phá, tức tối và tuyệt vọng. Cái lạ là NT đã dùng tử để tả nước, lấy rừng tả thác. Đó quả là cách chơi ngông trong văn chương của NT.
Hết uy hiếp người lái đò bằng thác dữ, Sông Đà lại dàn bày thạch trận với dã tâm tiêu diệt mọi con thuyền. Sông Đà tung ra một lực lượng hết sức hùng hậu, thiện chiến, với đủ tướng dữ, đủ quân tợn, đứa nào cũng ngỗ ngược, dữ dằn. Bọn giặc đá còn mưu mô, bí mật mai phục để bẫy con thuyền. Thoạt nhìn, thấy mặt sông trắng xoá cả một chân trời đá. Những hòn, những tảng tưởng như nó đứng, nó ngồi, nằm tùy theo sở thích. Nhưng hoàn toàn không phải vậy, chúng âm mưu bày bing bố trận hòng hại chết con thuyền đối phương. Chúng giàn ba vòng vây cực hiểm ác. Mỗi vòng vây, chúng mở rất nhiều cửa tử, chỉ duy nhất cửa sinh. Cửa sinh lại bố trí lắt léo, lúc bên phải, lúc bên trái, khi ở giữa. Vòng đầu, nó làm ra vẻ sơ hở để dụ con thuyền đối phương vào sâu rồi sau đó tung ra cú đánh khuýp quật vu hồi. Khi con thuyền xa vào trận đại, đá thác và sóng nước nhất tề xông lên, hợp đồng tác chiến, đánh hội đồng. Chúng đánh dồn dập, tới tấp với những miếng đòn hiểm độc. Chúng âm mưu đánh tan tất cả thuyền trưởng và thủy thủ ngay ở chân thác. Qua ngòi bút tài hoa, trí tưởng tượng phong phú của NT,sông Đà hiện nguyên hình là con quái vật khổng lồ nham hiểm, xảo quyệt, đủ mưu ma chước quỷ, đầy dã tâm thâm độc... Cứ thế, sự dữ dằn, hung bạo, hiểm ác của Sông Đà -kẻ thù số một của con người Tây Bắc cứ nhân lên trừng trừng trong liên tưởng, tưởng tượng của người đọc. Đọc trang văn mà ta như lạc vào trận địa đủ thiên la địa võng. 
Khám phá vẻ đẹp hung bạo của Sông Đà, NT không dừng lại ở việc tạc khắc vào tâm trí người đọc tính cách bạo dạn, có một không hai của con sông Tây Bắc mà còn bộc lộ khát vọng lớn của mình -khát vọng của một công dân đầy tâm huyết với công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Khi khám phá sự dữ dằn của Sông Đà, NT đã liên tưởng tới cái tuyếc bin thủy điện to lớn của Sông Đà. Sông Đà trở thành dòng sông của ánh sáng, đã dâng tặng cho đất nước nguồn năng lượng dồi dào, ánh sáng của Sông Đà đã đi khắp đất nước làm giàu cho bao hồn quê. 
Tác giả đã dùng kiến thức về quân sự, võ thuật, thể thao, thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, thậm xưng để làm nổi bật cái nham hiểm, xảo quyệt của Sông Đà. Dưới ngòi bút của NT, con sông Đà hung bạo tàn ác không khác gì "kẻ thù số một" của con người. Chẳng thế mà Sông Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh :"Núi cao sông hãy còn dài /năm năm báo oán đời đời đánh ghen". 
      Cái đẹp vốn tiềm tàng trong đời sống, vũ trụ nhưng phát hiện được cái đẹp và truyền đến người đọc tình yêu và niềm say mê với cái đẹp lại là chuyện không dễ dàng. Ghi nhớ điều này, chúng ta thêm trân trọng NT,người nghệ sĩ bằng niềm say mê thiên nhiên và bằng tay phù thủy ngôn ngữ, đã giúp người đọc chiêm ngưỡng đắm say trước vẻ đẹp của Sông Đà của thiên nhiên Tây Bắc hung bạo mà hùng vĩ. Chính trang văn của NT đã bồi đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước cho chúng ta. 
P/s: do ad lười nên viết tắt ạ 😣
NT-Nguyễn Tuân 

1/03/2020

Cảm nhận về đoạn thơ Đất nước
Cảm nhận về đoạn thơ Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng -Nguyễn Khao Điềm), làm sáng tỏ nhận định :Chất liệu văn hoá dân gian trong đoạn thơ Đất nước được sử dụng vừa quen thuộc vừa mới lạ.
1.Mở Bài :GIỚI THIỆU CHUNG :
-Giới thiệu về :nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, tác phẩm Mặt đường khát vọng và đoạn thơ Đất nước :
+Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam. 
+Trương ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị -Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974

1/02/2020

Nghị luận về vấn đề: Yêu nước bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh
         
Từ ngàn đời xưa, dân tộc ta đã có truyền thống yêu nước. Ngày nay, lòng yêu nước đó càng bộc lộ rõ nét hơn :"Yêu nước bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh". "Trái tim nóng" là trái tim nồng nàn, tha thiết, chứa chan yêu thương, sôi sục nhiệt huyết. "Cái đầu lạnh" là cái đầu biết suy nghĩ, tỉnh táo và sáng suốt nhìn nhận vấn đề. Chúng ta thể hiện tình yêu nước bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ. Chúng ta dùng trái tim nóng để luôn tự hào về truyền thống quê hương, để biết ơn và trân trọng thành quả của cha ông để lại, để bảo vệ và xây dựng đất nước vươn ra năm châu. Chúng ta dùng cái đầu lạnh để hành động, ứng xử một cách khôn ngoan tỉnh táo trước những hành vi chống phá đất nước của các thế lực thù địch. Quả thật, tình yêu nước phải là sự kết hợp của một trái tim nồng nàn và một cái đầu tỉnh táo. Mỗi công dân trên mọi miền tổ quốc đều có cách riêng để thể hiện lòng yêu nước của mình. Chúng ta quảng bá những hình ảnh đẹp của đất nước với bạn bè quốc tế, các bạn học sinh sinh viên cố công học tập để xây dựng đất nước, hàng ngàn người con trở về nơi đất tổ bày tỏ lòng biết ơn ngày mùng 10 tháng 3, nhà nhà người người hoà chung không khí mừng chiến thắng của đội tuyển Việt Nam, những người trai trẻ bỏ lại tất cả lên đường làm nhiệm vụ.... Đó là những minh chứng không thể chối cãi cho một trái tim nóng tràn đầy tình yêu nước, là minh chứng đúng như câu nói của Bác Hồ :"Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước".Lòng nồng nàn yêu nước không thể "bồng bột", "xốc nổi" như tuổi trẻ mà lòng yêu nước phải luôn chín chắn gắn với những cái đầu lạnh. Đặc biệt đứng trước các vấn đề mang tính chính trị như Trung Quốc tự ý đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển nước ta hay các chính sách mới của Đảng và Chính phủ, mỗi chúng ta thực sự cần tỉnh táo suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra những nhận xét thiếu khôn ngoan ảnh hưởng tới toàn xã hội, toàn quốc gia. Trước những thông tin chưa được xác thực trên mạng xã hội, các hoạt động gây rối, biểu tình, mỗi công dân cần có cái đầu lạnh,tin tưởng vào Đảng. Tình yêu nước là nguồn sức mạnh lớn nhất gắn kết mọi trái tim người Việt, là vũ khí để đánh đuổi ngoại xâm quét sạch nội thù, là phương tiện để xây dựng và phát triển Đất nước. Tình yêu nước gắn với trái tim nóng, gắn với cái đầu lạnh sẽ kiến thiết một đất nước hoà bình phát triển, tạo nên một xã hội văn minh, người người sống trong hạnh phúc. Thật đáng chê trách với những ai yêu nước bằng trái tim nóng mà thiếu đi sự tỉnh táo cần thiết khi chia sẻ những thông tin tiêu cực, tham gia các hoạt động gây rối. Và đáng phê phán hơn những ai là công dân nước Việt Nam mà mang tư tưởng thù địch, kích động bạo lực. Mỗi cá nhân hãy nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng và tự nhủ với lòng mình :"Yêu nước bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh". 
7 bài học khinh ngạc trong câu chuyện cổ tích lị lem
7 BÀI HỌC ĐÁNG KHINH NGẠC TRONG CHUYỆN CỔ TÍCH CÔ BÉ LỌ LEM
Khi nhắc đến câu chuyện cổ tích Cô bé lọ lem , chúng ta thường được dạy duy nhất một bài học .Đó là ở hiền thì gặp lành . Nhưng thế là chưa đủ! Nhiều ý kiến cho rằng những câu chuyện cổ tích đã cũ cà nó không còn phù hợp với thời đại mới .Nó khiến con người trở nên yếu đuối ,chờ đợi sự giúp đỡ của những thế lực siêu nhiên . Điều đó có phần đúng nhưng chưa đủ . Trong câu chuyện Cô bé lọ lem ,chúng ta sẽ bắt gặp 7 BÀI HỌC chưa bao giờ cũ

12/28/2019

Nghi luận xã hội "nếu ai sợ những hạt mưa rơi thì nắng hồng không bao giờ tới"
Nghị luận xã hội : Trình bày suy nghĩ của anh chị bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ về ý kiến sau
   "Nếu ai sợ những hạt mưa rơi thì nắng hồng không bao giờ tới "
  BÀI LÀM
Câu nói :"nếu ai sợ hạt mưa rơi thì nắng hồng không bao giờ tới "khiến chúng ta phải suy ngẫm.Quả đúng là như vậy !"Những hạt mưa rơi " là hình ảnh tượng trưng cho những khó khăn thử thách ,những vấp ngã trong cuộc sống .Còn hình ảnh " nắng hồng" tượng trưng cho những thành quả , sự thành công gặt hái . Câu nói muốn nhấn mạnh với chúng ta một quy luật của cuộc sống :chỉ có vượt qua những khó khăn, không sợ hãi trước thử thách thì thành công sẽ đến. Bởi vì không có thành công nào tự nhiên mà đến và không có con đường nào dẫn đến thành công mà trải đầy hoa hồng. Để đạt được mục tiêu, chúng ta phải trải qua nhiều những khó khăn, trau dồi và rèn luyện bản thân qua những thử thách, trưởng thành qua từng thất bại. Một người thấy khó khăn mà không ngần ngại, một người kiên trì theo đuổi đến cùng, một người khao khát mãnh liệt đứng lên sau vấp ngã sau thất bại mới thấy được "nắng hồng". Sau một chặng đường dài nỗ lực, bạn sẽ gặt hái được thành quả, trưởng thành và mạnh mẽ. Thành quả ở đây có thể là những điều phi thường như phát minh những sáng chế vĩ đại, là phát triển kinh doanh nhưng có khi chỉ là những điều nhỏ bé như với người học sinh là điểm thi cao, với người nông dân là vụ mùa bội thu... Khi đó những khó khăn đã qua trở nên nhỏ bé trước niềm vui, hân hoan, tự hào khi đạt được thành công. Nếu như nhà phát minh Edison nản lòng sau 10.000 lần thí nghiệm thất bại thì chúng ta sẽ khó lòng thấy được ánh sáng văn minh của một thời đại mới. Dân tộc ta đã trải qua bao nhiêu năm kháng chiến gian nan đồng lòng gắng sức thì mới có được sự độc lập dân chủ tự do như hôm nay. Và hãy nhìn gần hơn và những vận động viên, họ phải trải qua bao rèn luyện khắc khổ, bao đau đớn mới giành được tấm huy chương vàng cho đất nước. Bạn có đang gặp khó khăn, có đang nản lòng, chùn bước trên con đường thành công? Không từ bỏ, bước về phía trước ắt hẳn thành công sẽ đến. Câu nói đã trở thành một quy luật tất yếu của cuộc sống. Nhưng cũng phải nhớ rằng khó khăn là điều không thể tránh nhưng hãy đối mặt với khó khăn một cách khôn ngoan. Không phải lúc nào lựa chọn đương đầu thử thách cũng đem lại thành công, chúng ta không lảng tránh khó khăn nhưng phải có một kế hoạch tỉnh táo để vượt qua nó. Thật đáng chê trách với những ai đã và đang nản lòng, chùn bước, nuôi trong tâm trí ý nghĩ từ bỏ, sợ hãi khó khăn. Mỗi người trong chúng ta sẽ luôn ghi nhớ câu nói này, hứa với lòng dấn thân vào con đường đầy khó khăn và sẽ không bỏ cuộc. Ắt hẳn một ngày không xa bạn sẽ đạt được mục tiêu của mình. Là một người học sinh, em luôn cố gắng tự vạch ra những mục tiêu trên từng chặng đường học tập và nỗ lực hết mình vì mục tiêu đó.
ĐÂY LÀ MỘT ĐOẠN VĂN 200 CHỮ MANG TÍNH THAM KHẢO 
Bài làm được giáo viên đánh giá 8,5Đ